Ông B và ông M cùng là cán bộ hưu trí. Sau khi tự ý chuyển chuồng chăn nuôi gia cầm từ vườn nhà mình sang phần đất thuộc phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi, ông B nhận tiền đặt cọc, kí hợp đồng cho ông M thuê toàn bộ diện tích đất vườn mà ông B được cấp chứng nhận quyền sử dụng. "Nếu có thể giữ số tiền phải trả hằng tháng thấp, bạn đã tiến được một bước dài trong việc bảo vệ gia đình khỏi tác động của lạm phát" - Jack Otter viết. 9. Có thể được giảm thuế Lợi ích về thuế lớn nhất của những người có nhà riêng là khả năng giảm trừ số tiền lãi thế chấp mua nhà hằng tháng khỏi số tiền thuế thu nhập phải nộp và còn hơn thế nữa. Đặt cọc là một biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự được quy định tại Bộ luật dân sự 2005. Theo quy định tại Điều 358 Bộ luật dân sự năm 2005 về đặt cọc thì: "1. Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quí, đá Nếu lỗi thuộc về bên nhận đặt cọc thì bên này phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền phạt cọc tương đương với tài sản đặt cọc trừ phi có thỏa thuận khác. 2. Tải hợp đồng đặt cọc file word năm 2022 Tải File Word Ngay Tải hợp đồng đặt cọc nhà đất file word mẫu 3. Những lưu ý trước khi đặt cọc mua nhà năm 2022 Tư vấn tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán đất tại Huyện Tiền Hải. Công ty giải quyết các vấn đề liên quan đến đất đai theo quy định pháp luật nhà ở ; Luật đầu tư Luật lao động; Luật nghĩa vụ quân sự; Luật sở hữu trí tuệ; Luật thừa kế; Luật thuế 72K3Y. Tiền đặt cọc thuê nhà là gì?Tiền đặt cọc thuê nhà là khoản tiền bên thuê nhà nộp cho chủ nhà trước khi ký hợp đồng cho thuê nhằm đảm bảo hợp đồng thuê nhà được thực hiện. Điều này giúp bảo vệ quyền lợi cho cả bên cho thuê và bên thuê khác, tiền đặt cọc thuê nhà cũng chính là một phương tiện đảm bảo hữu hình nếu có trường hợp người thuê nhà làm hư hỏng, làm mất tài sản hoặc người thuê nhà vi phạm một số điều khoản của hợp đồng thuê nhà đặt cọc thuê nhà cũng còn biết đến với một số tên gọi khác nữa như Tiền đặt cọc đảm bảo việc thực hiện hợp đồng hoặc tiền đặt cọc cho những thiệt đặt cọc thuê nhà cũng chính là một phương tiện đảm bảo hữu hình nếu có trường hợp người thuê nhà vi phạm một số điều khoản của hợp đồng thuê nhà cọc thuê nhà bao nhiêu?Theo luật đất đai 2022, không có quy định cụ thể nào nói về số tiền đặt cọc là bao nhiêu. Số tiền đặt cọc thuê nhà thường do hai bên tự thỏa thuận với đặt cọc thuê nhà dành cho các loại hình cho thuê phổ biến như sauTiền đặt cọc thuê căn hộ dịch vụ Hợp đồng thuê 6 tháng – đặt cọc trước 01 tháng tiền thuê. Hợp đồng 12 tháng sẽ đặt cọc 02 tháng tiền đặt cọc thuê căn hộ chung cư Tiền đặt cọc sẽ là 02 tháng tiền thuê. Không phụ thuộc vào khoảng thời gian thuê nhà. Một số chủ nhà còn yêu cầu người thuê tiền đặt cọc trước là 03 tháng tiền đặt cọc thuê nhà nguyên căn, biệt thự và các cơ sở thương mại Hợp đồng thuê dưới 3 năm thường đặt cọc 02 tháng tiền thuê. Hợp đồng thuê trên 3 năm sẽ đặt cọc 03 tháng tiền nhiên, vẫn có một số chủ nhà yêu cầu người thuê nhà đóng tiền đặt cọc cao hơn từ 4, 5, 6 tháng và nó sẽ tùy thuộc vào tài sản có bên trong căn nhà đặt cọc thuê nhà có lấy lại được không?Chủ nhà sẽ trả lại số tiền đặt cọc cho bên thuê nhà sau khi hết hợp đồng thuê nhà với điều kiện bên thuê không vi phạm điều khoản nào trong hợp đồng. Số tiền này được xem như điều kiện đảm bảo hiệu lực của hợp đó, các bên tham gia cần thành lập một văn bản có chữ ký, quy định tiền đặt cọc mua nhà cẩn thận, xác nhận đầy đủ để tránh những tranh chấp tiền đặt cọc thuê nhà không đáng có sau đặt cọc thuê nhà sẽ được chủ nhà trả lại cho người thuê khi hết hạn hợp đồng, nếu người thuê không vi phạm chấp tiền đặt cọc thuê nhàViệc đặt cọc thuê nhà thường xảy ra tranh chấp khi chủ nhà không trả lại tiền cọc cho người thuê sau khi hợp đồng thuê nhà hết hiệu đây, chúng tôi sẽ chia thành 2 trường hợp tranh chấp tiền đặt cọc thuê nhà như sauTrường hợp người thuê nhà mất tiền đặt cọcNgười thuê nhà có thể bị mất số tiền đặt cọc đã nộp cho chủ nhà từ đầu nếuNgười thuê nhà đơn phương chấm dứt hợp đồng khi vẫn còn trong thời gian thực thuê nhà tự ý tháo dỡ và sửa chữa nhà nghiêm trọng khi không được sự đồng thuận của chủ thuê vi phạm các điều khoản được quy định trong hợp đồng thuê hợp người thuê nhà lấy lại tiền đặt cọcNgười thuê nhà lấy lại được tiền đặt cọc nếuHợp đồng cho thuê nhà hết hiệu lực, người thuê nhà không vi phạm quy định gì trong hợp đồng, và trả lại căn nhà gọn gàng như lúc ban đầuNgười cho thuê đơn phương chấm dứt hợp đồng đối với người thuê trong thời gian hợp đồng vẫn còn hiệu lực để cho bên thứ 3 cho thuê không sửa chữa nhà khi nhà có dấu hiệu giảm sút nghiêm trọng, có nguy cơ gây ảnh hưởng đến cuộc sống, sức khỏe và tính mạng của người đi cho thuê đột ngột tăng giá nhà một cách bất hợp lý không theo những điều khoản đã thỏa thuận trong hợp đồng giữa hai tránh tranh chấp tiền đặt cọc thuê nhà khi hết hạn hợp đồngNhiều người thuê nhà khi trả lại thì bị chủ nhà tìm đủ mọi lý do để không hoàn lại tiền đặt cọc. Trường hợp gặp nhiều nhất là chủ nhà lấy cớ căn nhà bị hư hỏng, sai khác so với lúc mới dọn vào, nên giữ lại tiền đặt cọc coi như tiền đền đó, Houze Agent sẽ mách các bạn đi thuê nhà 3 cách nào để tránh rơi vào trường hợp trên nhé1. Chụp ảnh, quay phim lại căn nhà thuê trước khi dọn vào ởTrước khi chính thức dọn vào ở, bạn nên quay lại video hoặc chụp ảnh từng ngóc ngách trong căn nhà. Người thuê nhà cần đặc biệt chú ý các khu vực hay gặp vấn đề, bị xuống cấp, những món đồ đã bị hư hỏng nhẹ, sau đó xác nhận lại với chủ nhà rồi lưu lại trong kho ảnh của chắc chắn chủ nhà không thể bác bỏ về thời điểm chụp của bức ảnh lưu lại hiện trạng căn phòng, các bạn nên gửi chúng qua email hoặc tin nhắn để ghi dấu thời là cách lấy lại tiền cọc thuê nhà khá hiệu quả cũng như giúp người thuê tránh được một số mâu thuẫn, xung đột sau khi chuẩn bị dọn đi. Chủ nhà sẽ không thể lấy những khuyết điểm vốn có của căn nhà ra để bắt đền thuê nhà nên chụp lại mọi ngóc ngách trong căn nhà trước khi dọn vào Dọn dẹp căn nhà sạch sẽ trước khi chuyển đi Trước khi dọn đi, bạn phải chắc chắn đã thu dọn sạch những món đồ cá nhân của mình, dọn dẹp lại căn nhà một cách gọn gàng và sạch sẽ nhất có thể. Tốt nhất bạn không nên để lại bất cứ tài sản gì của bạn lại trong phòng tế đã có nhiều chủ nhà khó tính, nếu đồ đạc của bạn vẫn để lại trong nhà, họ sẽ xem như bạn chưa chuyển đi. Vì vậy họ sẽ đòi thêm tiền thuê của thời gian ở lại đó bằng việc trừ vào tiền Chủ động tìm người thuê mới nếu muốn chuyển đi trước hạn hợp đồngNếu bạn muốn chuyển đi trước hạn hợp đồng mà vẫn có thể lấy lại được tiền cọc thì cách tốt nhất là bạn hãy chủ động tìm được người thuê mới cho căn nhà vậy, người thuê mới sẽ nối tiếp hợp đồng của bạn, họ cũng sẽ đưa tiền cọc thuê nhà cho bạn, còn chủ nhà thì không cần trả tiền cọc cho nhiên, nếu bạn muốn chuyển đi quá gấp thì cũng khó thực hiện được theo cách này vì không thể ngày một, ngày hai mà tìm được người thuê nhà nối tiếp hợp đặt cọc thuê nhà là khoản phí không thể tránh khỏi khi thuê nhà. Vì vậy, người thuê nhà cần nắm rõ những điều trên đây để không bị thiệt thòi và thực hiện đúng quy định của pháp vừa xem qua bài viết "Tiền đặt cọc thuê nhà bao nhiêu? Có lấy lại được sau khi chuyển đi không?". Ngoài ra, bạn cũng có thể tham khảo các bài viết dưới đâyTất tần tật mọi điều cần biết trước khi mua chung cư trả góp​5 lợi ích khi đầu tư BĐS dài hạn lời nhiều hơn, sống thọ hơn,...Hướng dẫn chi tiết chụp hình căn hộ để đăng tin nhiều người xem​​6 góc 1 mét vuông’ dễ bị lãng phí nhất trong căn hộ, và cách tận dụngDanh sách căn hộ Quận 2 cho thuê dưới 6 triệu/tháng​Chủ nhà hay người thuê nhà phải sửa khi nhà cho thuê bị hư hỏng?​​5 rủi ro khi mua đất sổ chung, ở không được, bán không xong​​Cách để được duyệt vay mua nhà giữa lúc siết tín dụng bất động sản5 nguyên tắc 'vàng' để đầu tư BĐS dự án không bị chôn vốn​8 tiêu chí quyết định thắng thua trong đầu tư bất động sản​Mua chung cư trả góp chưa thanh toán xong có bán được không?​3 hình thức mua chung cư trả góp phổ biến nhất hiện nayThu Hồ Trước khi thực hiện việc xác lập các hợp đồng như hợp đồng thuê nhà, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất,… Một loại hợp đồng thường được ký kết trong những trường hợp này – đó là hợp đồng đặt cọc. Tài sản thường được nhiều người sử dụng trong việc đặt cọc là tiền mặt. Tuy nhiên, vì lý do chưa nắm rõ các quy định liên quan đến vấn đề đặt cọc mà hai bên thường xảy ra tranh chấp mà không biết phải giải quyết thế nào. Luật sư tư vấn dân sự sẽ cùng quý khách hàng cùng nhau đi tìm hiểu rõ hơn về vấn đề Giải quyết tranh chấp đòi lại tiền đặt cọc thuê nhà. Tình huống khách hàng mắc phải Vào tháng 06/2021, do thay đổi địa điểm công việc nên tôi có thuê nhà của ông Nguyễn Sỹ S với thời hạn 6 tháng với giá triệu mỗi tháng và đặt cọc số tiền đồng khi hai bên ký hợp đồng. Tuy nhiên khi mới ở được 3 tháng thì căn nhà có những dấu hiệu xuống cấp nghiêm trọng, không đúng với những cam kết của ông S về chất lượng khi giao nhà nên tôi quyết định trả nhà và lấy lại số tiền cọc trước đó. Ông S không đồng ý việc trả nhà và trả lại tiền đặt cọc mà tôi đã đặt cọc trước đó do hợp đồng thuê nhà có thời hạn 3 tháng. Xin hỏi Luật sư tôi phải làm thế nào để đòi lại được số tiền cọc này? 1. Quy định của pháp luật về vấn đề đặt cọc Vấn đề đặt cọc được pháp luật quy định cụ thể tại Điều 328 Bộ luật dân sự 2015 như sau Đặt cọc là việc một bên sau đây gọi là bên đặt cọc giao cho bên kia sau đây gọi là bên nhận đặt cọc một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. Việc quý khách hàng đặt cọc số tiền khi hai bên ký giao kết hợp đồng thuê nhà là để đảm bảo thực hiện hợp đồng. Khi hợp đồng đã được giao kết, thực hiện thì số tiền đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc dùng để trừ đi nghĩa vụ trả tiền nếu không trả đủ tiền thuê nhà. Khi một bên vi phạm thỏa thuận trước đó, bên kia có quyền đòi lại tiền cọc thuê nhà. Xem thêm Giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê tài sản 2. Khi nào được đòi tiền đặt cọc thuê nhà? Theo quy định tại Điều 428 Bộ luật dân sự 2015 một bên có quyền chấm dứt hợp đồng và đòi lại tiền cọc khi Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện. Bên bị thiệt hại do hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng của bên kia được bồi thường. Trường hợp việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này thì bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực hiện trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan do không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng. Trong trường hợp của quý khách hàng, việc chấm dứt hợp đồng thuê nhà và đòi lại tiền đặt cọc là yêu cầu hợp lý vì ông S đã vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng, không đảm bảo được chất lượng của căn nhà như khi giao kết hợp đồng. Khi chấm dứt hợp đồng cần thông báo ngay cho bên kia biết. Xem thêm Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất có bị vô hiệu không? 3. Thủ tục giải quyết tranh chấp đòi lại tiền đặt cọc thuê nhà Khi muốn đòi tiền cọc thuê nhà, trước hết các bên có thể tự trao đổi, thỏa thuận để giải quyết tranh chấp tiền đặt cọc thuê nhà để tiết kiệm thời gian, chi phí cho cả hai bên. Tuy nhiên việc thỏa thuận không phải lúc nào cũng đạt được sự hài lòng giữa các bên. Khi đó cần tới sự can thiệp của Tòa án nhân dân nơi có thẩm quyền giải quyết vụ việc. Hồ sơ cần chuẩn bị khi tiến hành khởi kiện tranh chấp đòi tiền đặt cọc thuê nhà tại Tòa án Đơn khởi kiện theo mẫu; Giấy tờ tùy thân có chứng thực hoặc công chứng; Các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp; Bản kê các tài liệu nộp kèm theo đơn khởi kiện ghi rõ số lượng bản chính, bản sao. Thủ tục khởi kiện tranh chấp đòi lại tiền đặt cọc thuê nhà Người có yêu cầu khởi kiện tiến hành nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Nhận thông báo tạm ứng án phí và nộp tạm ứng án phí khi có thông báo từ Tòa án Chờ thông báo thụ lý vụ án. Sau khi có thông báo thụ lý vụ án, Tòa án sẽ tiến hành xét xử trong thời hạn 4 tháng kể từ ngày vụ án được thụ lý. Từ những thông tin pháp lý mà Công ty Luật TNHH VIVA vừa đưa ra, chúng tôi mong rằng quý khách hàng đã biết rõ hơn về quy định của pháp luật khi gặp phải vướng mắc trong vấn đề Tranh chấp đòi lại tiền đặt cọc thuê nhà. Nếu còn tồn tại những thắc mắc cũng như mong muốn nhận được sự hỗ trợ trực tiếp từ đội ngũ Luật sư giàu kinh nghiệm trong việc giải quyết tranh chấp, xin liên hệ trực tiếp với chúng tôi. Trân trọng! Liên hệ qua Hotline 096 267 4244 – Ls. Trần Trọng Hiếu là người trực tiếp tư vấn; 093 559 6650 – Ls. Trần Trọng Hiếu là người trực tiếp tư vấn; Liên hệ trực tiếp tại địa chỉ Số 15 đường số 21, khu phố 2, phường An Khánh, TP. Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh; Số 60A đường 22, phường Phước Long B, TP. Thủ Đức, Tp. Hồ Chí Minh; Liên hệ qua Zalo - Facebook Zalo 096 267 4244 - Facebook Viva Law Firm; Liên hệ qua Email Saigonlaw68 Luatsutronghieu Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng! TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHBẢN ÁN 1011/2019/DS-PT NGÀY 11/11/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THUÊ NHÀ Ngày 11 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 417/DSPT ngày 05/9/2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê nhà”.Do bản án dân sự sơ thẩm số 228/2019/DSST ngày 09/7/2019 của Tòa án nhân dân Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4372/2019/QĐPT-DS ngày 23 tháng 9 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 8499/2019/QĐPT-DS ngày 21/10/2019 giữa các đương sự*Nguyên đơn Ông Phan Văn Q, sinh năm 1967 Địa chỉ Số 182/4 đường A, Phường L, quận X, Thành phố Hồ Chí đại diện hợp pháp của nguyên đơn1. Ông Nguyễn R, sinh năm 1985 – đại diện theo ủy chỉ Số 519/2/9 đường S, Phường O, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh có mặt.2. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1983 – đại diện theo uỷ quyền. Địa chỉ Ấp P, xã M, huyện V, tỉnh E.Theo Văn bản ủy quyền số 018587 ngày 25/10/2019.*Bị đơn Bà Trần Thị Y, sinh năm chỉ Số 152E, đường D, phường P, quận B, Thành phố Hà đại diện hợp pháp của bị đơn ông Nguyễn Xuân U, sinh năm 1976. Địa chỉ Phòng lầu 2, toà nhà X, số 38 đường G, phường M, quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.Theo văn bản uỷ quyền số 003230, quyển số 02/TP/CC-SCC/UQ, ngày 21/8/2019Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn Ông Ngô Trọng I – Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh S.*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Vũ Đình O, sinh năm 1979 Địa chỉ Số 155/11 đường H, phường K, Quận Q, Thành phố Hồ Chí đại diện hợp pháp Ông Nguyễn Xuân U, sinh năm 1976 – đại diện theo ủy quyền Văn bản ủy quyền số 09002631 ngày 16/3/2016.Địa chỉ Số 16, đường K, phường I, quận E, Thành phố Hồ Chí Ông Nguyễn Bá P, sinh năm 1984Địa chỉ Số 194/17 đường A, Phường L, quận X, Thành phố Hồ Chí đại diện hợp pháp Ông Nguyễn Xuân U, sinh năm 1976 – đại diện theo ủy quyền Văn bản ủy quyền số 09002630 ngày 16/3/2016.Địa chỉ Số 16, đường K, phường I, quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Người kháng cáo Bị đơn bà Trần Thị DUNG VỤ ÁN* Trong đơn khởi kiện đề ngày 08/6/2015 và quá trình chuẩn bị xét xử người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Phan Văn Q trình bàyÔng Phan Văn Q là chủ sở hữu căn nhà tại địa chỉ số 39 đường L, phường U, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 981280, số vào sổ cấp GCN H 02039 do Ủy ban nhân dân Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Võ Văn A và bà Tăng Thị S ngày 03/10/2006; ông Phan Văn Q nhận chuyển nhượng theo Hợp đồng số 9620 tại Phòng công chứng E ngày 25/4/2008, cập nhật thay đổi chủ sở hữu ngày 23/5/2008. Đồng thời, ông Phan Văn Q là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Một thành viên Khách sạn N, trụ sở chính Số 39, đường L, phường U, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh với ngành nghề kinh doanh khách 28/8/2013, ông Phan Văn Q và bà Trần Thị Y có ký Hợp đồng thuê khách sạn và tài sản tại địa chỉ số 39, đường L, phường U, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo nội dung hợp đồng, ông Q cho bà Y thuê toàn bộ diện tích nhà đất số 39 đường L, phường U, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh để kinh doanh trong lĩnh vực khách sạn với thời hạn thuê 05 năm từ ngày 10/9/2013 đến ngày 09/9/2018, giá thuê từ ngày 10/9/2013 đến 09/9/2014 là đồng/tháng, từ ngày 10/9/2014 đến 09/9/2015 là từ ngày 10/9/2015 đến 09/9/2018 là USD/tháng, thanh toán bằng đồng Việt Nam. Do căn nhà cho thuê ông Q đang thế chấp vay ngân hàng tại thời điểm các bên lập hợp đồng thuê khách sạn và tài sản do đó các bên chỉ lập hợp đồng tay mà không công chứng. Cùng ngày, bà Y cũng đã đặt cọc cho ông Q số tiền đồng để đảm bảo cho hợp đồng thuê. Tuy nhiên, cũng vì lý do trên mà hai bên không thể lập hợp đồng đặt cọc tại công chứng nên mới lập Hợp đồng vay số tiền trên tại Phòng công chứng Q cho bà Y thuê nhà với tư cách cá nhân nhưng do ông Q đã đăng ký kinh doanh khách sạn và được Sở kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH Một thành viên Khách sạn N do ông Q là đại diện theo pháp luật do đó ông Q cho bà Y thuê nhà đồng thời cho bà Y mượn giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp để kinh doanh khách trình thực hiện hợp đồng, bà Y chỉ trả cho ông Q được 01 tháng tiền thuê nhà đồng rồi không tiếp tục trả nữa. Mặc dù nguyên đơn đã nhiều lần liên hệ nhưng bà Y vẫn không thanh toán tiền thuê như hợp đồng hai bên đã thỏa thuận. Mặt khác, ông Q phát hiện bà Y không trực tiếp điều hành việc kinh doanh tại địa điểm kinh doanh mà giao cho người khác quản lý. Đồng thời, bà Y đã tự ý giao Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho ông Nguyễn Bá P và ông P đã làm giả hồ sơ đề nghị Sở kế hoạch đầu tư thay đổi người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH Một thành viên Khách sạn N thành ông Nguyễn Bá P. Căn cứ tố cáo và đề nghị của ông Q, Sở kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành kiểm tra rà soát, sau khi có kết luận của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định chữ kí của ông Q trong hồ sơ đăng ký thay đổi doanh nghiệp là giả, đã thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần thứ 5 người đại diện theo pháp luật ông Nguyễn Bá P và phục hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần thứ 4 người đại diện theo pháp luật ông Phan Văn Q.Ngoài ra, quá trình bà Y thuê nhà, bà Y đã để cho đối tượng Nguyễn Tiến D thực hiện hành vi “Kinh doanh trái phép” tại địa chỉ thuê, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận R đã ra Quyết định khởi tố bị can và truy nã để xử 10/8/2016 bà Y, ông O và ông P mới chính thức ra khỏi nhà số 39 đường L, Quận R, bàn giao lại nhà cho ông Q trông coi, quản phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu tuyên bố Hợp đồng thuê khách sạn và tài sản ngày 28/8/2013 giữa nguyên đơn và bị đơn là vô hiệu; Buộc bị đơn trả tiền thuê nhà còn thiếu từ ngày 10/9/2013 đến ngày 10/8/2016 sau khi đã cấn trừ đồng tiền cọc và 01 tháng tiền thuê đồng bà Y đã trả là đồng. Thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Nguyên đơn tự nguyện chịu lệ phí thẩm định giá tài sản đã nộp ra, nguyên đơn yêu cầu Tòa án duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời “Cấm thực hiện hành vi xuất cảnh ra nước ngoài” đối với bà Trần Thị Y theo Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 69/2016/QĐ-BPKCTT ngày 05/9/2016 của Tòa án nhân dân Quận R để đảm bảo thi hành án.* Bị đơn bà Trần Thị Y trình bàyBà xác nhận bà và ông Phan Văn Q có ký kết Hợp đồng thuê khách sạn và tài sản ngày 28/8/2013 tại địa chỉ số 39 đường L, phường U, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh và bà đã trả trước tiền thuê một tháng là đồng. Hình thức và số tiền đặt cọc để đảm bảo cho hợp đồng thuê đồng như nguyên đơn trình bày là đúng. Sau đó, do bà thường xuyên đi công tác tại nước ngoài không có thời gian quản lý khách sạn nên vào ngày 01/10/2013 bà đã bàn giao toàn bộ khách sạn lại cho ông Nguyễn Bá P và Vũ Đình O quản lý, bà chỉ lập giấy ủy quyền cho ông P và ông O. Ngày 24/11/2013 bà và người đại diện có bàn bạc với nguyên đơn yêu cầu giảm tiền thuê xuống còn đồng/tháng nhưng nguyên đơn không chấp nhận và yêu cầu thanh lý hợp đồng. Từ ngày 24/11/2013 ông Q đã gây khó khăn nên việc kinh doanh gặp nhiều trở ngại phải báo cho chính quyền địa phương và niêm phong, không O hành kinh doanh được trình chuẩn bị xét xử, bị đơn đồng ý chấm dứt hợp đồng thuê nhà với nguyên đơn và chỉ đồng ý trả cho nguyên đơn 02 tháng tiền thuê nhà và cấn trừ vào số tiền đặt cọc bị đơn đã đưa nên số tiền cọc nguyên đơn phải trả cho bị đơn là đồng. Yêu cầu này chưa được Tòa án cho đóng tiền tạm ứng án phí và thụ lý giải quyết. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị đơn rút yêu cầu trên, không yêu cầu Tòa án tạm ngừng phiên tòa để thụ lý giải quyết và trên tinh thần thiện chí giải quyết vụ án, bị đơn đồng ý cấn trừ hết số tiền đã đặt cọc đồng trả tiền thuê nhà còn thiếu cho ông Q để chấm dứt hợp đồng đã ký. Nếu nguyên đơn không đồng ý thì bà đồng ý chấm dứt hợp đồng nhưng không đồng ý trả số tiền thuê nhà còn thiếu đồng như yêu cầu của nguyên đơn.* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Vũ Đình O, ông Nguyễn Bá P do người đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Xuân U trình bàyNgày 28/8/2013 bà Trần Thị Y đã ký Hợp đồng thuê khách sạn và tài sản tại địa chỉ 39 đường L, phường U, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh với ông Phan Văn Q. Hợp đồng thuê nhà giữa ông Q và bà Y có thời hạn 05 năm, bắt đầu từ ngày 10/9/2013 đến ngày 09/9/ khi thuê, bà Y có nhu cầu cùng hợp tác kinh doanh với ông O và ông P nên vào ngày 05/8/2013 giữa bà Y và ông O, ông P đã lập thỏa thuận hợp tác với nội dung chính các bên đồng ý cùng hợp tác đầu tư kinh doanh khách sạn và cử ông P điều hành hoạt động kinh doanh, tiền thuê nhà sẽ được trích từ doanh thu hàng tháng và giao cho bà Y trả tiền thuê nhà cho ông thời gian thuê nhà, bà Y và ông O, ông P không vi phạm nghĩa vụ của bên thuê và đã tôn trọng thỏa thuận theo Hợp đồng các bên đã ký kết. Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty TNHH Một thành viên Khách sạn N do ông Nguyễn Bá P đứng tên làm đại diện theo pháp luật bị thu hồi do lỗi của nguyên đơn và quá trình kinh doanh thực tế do bị cơ quan chức năng kiểm tra và xử phạt do đó bà Y, ông P và ông O không hoạt động kinh doanh được. ông O cũng đã đề nghị thừa phát lại lập vi bằng về việc tạm ngưng kinh doanh từ ngày 19 tháng 12 năm 2015. Quá trình giải quyết vụ án, ông O và ông P có đưa ra yêu cầu ông Q bồi thường thiệt hại chi phí đầu tư kinh doanh. Tuy nhiên, sau khi Tòa án giao thông báo tạm nộp án phí, xét thấy chưa cần thiết nên ông O và ông P không yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu trên nữa, có tranh chấp sẽ khởi kiện bằng vụ án khác. Đối với yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn, ông O và ông P không có ý kiến gì. Ông O và ông P cũng xác nhận ngày 10/8/2016 chính thức dọn ra khỏi nhà 39 đường L, phường U, Quận R, giao nhà lại cho nguyên đơn quản lý sử bản án dân sự sơ thẩm số 228/2019/DS-ST ngày 09/7/2019 của Tòa án nhân dân Quận R đã tuyênCăn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 40; 195; 200; 202; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;Căn cứ vào các Điều 127; 134; 137; 492 Bộ luật Dân sự năm 2005; Căn cứ khoản 3 Điều 93 Luật nhà ở năm 2005;Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án;Căn cứ Luật thi hành án dân sự nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơnTuyên bố Hợp đồng thuê khách sạn và tài sản ngày 28 tháng 8 năm 2013 giữa ông Phan Văn Q và bà Trần Thị Y là vô bị đơn bà Trần Thị Y có trách nhiệm trả cho nguyên đơn ông Phan Văn Q số tiền thuê nhà còn thiếu là đồng ngay khi án có hiệu lực pháp bên thi hành dưới sự giám sát của cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời áp dụng tại Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 69/2016/QĐ-BPKCTT ngày 05 tháng 9 năm 2016 của Tòa án nhân dân Quận R để đảm bảo thi hành ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương 22/7/2019, bị đơn bà Trần Thị Y kháng cáo yêu cầu huỷ toàn bộ Bản án số 228/2019/DS-ST ngày 09/7/2019 của Tòa án nhân dân Quận R, Thành phố Hồ Chí phiên tòa phúc thẩmNguyên đơn không rút đơn khởi đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm để xét xử lại vì cho rằng bị đơn không có lỗi trong việc hợp đồng thuê nhà bi vô hiệu và Toà án cấp sơ thẩm đã áp dụng sai quy định của pháp có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu kháng bên đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiếnVề hình thức Đơn kháng cáo của các đương sự làm trong hạn luật định nên hợp lệ, đề nghị Tòa án chấp nhận. Hội đồng xét xử và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc nội dung Hợp đồng thuê nhà ngày 28/8/2013 ký kết giữa các đương sự đã vi phạm về hình thức do không có công chứng, chứng thực. Do đó hơp đồng nói trên bị vô hiệu. Lỗi do cả hai bên nên không phát sinh trách nhiệm bồi thường. Thực tế sau khi thuê nhà bà Y đã nhận nhà và đến ngày 10/8/2016 mới trả lại nhà cho nguyên đơn, do đó bà Y vẫn phải có trách nhiệm trả tiền thuê nhà theo thoả thuận của các bên. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ ĐỊNH CỦA TÒA ÁNSau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận và sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định[1] Về hình thức và thời hạn kháng cáo Ngày 09/7/2019, Toà án nhân dân Quận R xét xử và ban hành Bản án số 228/2019/DS-ST. Ngày 22/7/2019 bị đơn có đơn kháng cáo đề nghị huỷ bản án sơ thẩm. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 thì kháng cáo của bị đơn còn trong hạn luật định và hợp lệ.[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn yêu cầu huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy [ Về tố tụngVề thẩm quyền giải quyết vụ án của Toà án cấp sơ thẩm Nguyên đơn lựa chọn Tòa án nhân dân Quận R là nơi các bên thực hiện hợp đồng. Bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn cho rằng bị đơn là người nước ngoài, không còn quốc tịch Việt Nam, không cư trú tại Việt Nam tại thời điểm Tòa án nhân dân Quận R thụ lý vụ án và cư trú thường xuyên tại nước ngoài do đó vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận R mà thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào hợp đồng thuê nhà và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị đơn bà Trần Thị Y có địa chỉ tại 152E đường D, phường P, quận B, Thành phố Hà Nội. Bà Y được đại sứ quán Việt Nam tại Ba Lan cấp hộ chiếu số N1580089 do Đại sứ quán Việt Nam tại Ba Lan cấp ngày 28/3/2012. Hộ chiếu nêu trên được cơ quan có thẩm quyền cấp cho người có quốc tịch Việt Nam; Căn cứ Công văn cung cấp thông tin xuất nhập cảnh số 2219 CV/QLXNC- P4 ngày 10 tháng 8 năm 2016 của Cục quản lý xuất nhập cảnh – Bộ Công an xác định bà Y dùng hộ chiếu N1580089 xuất nhập cảnh Việt Nam nhiều lần và tại thời điểm Tòa án nhân dân Quận R thụ lý vụ án 02/11/2015 bà Y đã nhập cảnh Việt Nam từ ngày 18/7/2015 và sau đó ngày 29/11/2015 mới xuất cảnh. Sau đó bà Y tiếp tục nhập cảnh, xuất cảnh nhiều lần. Quá trình Tòa án nhân dân Quận R giải quyết vụ án, bà Y có trực tiếp tham gia tố tụng, uỷ quyền cho người đại diện là ông Ngô Trọng I tham gia tố tụng, trình bày ý kiến thưc hiện đầy đủ quyền và nghĩa tố tụng của minh. Do đó Toà án nhân dân Quận R thụ lý, giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự là đúng thẩm quyền.[ Về nội dung[ Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc tuyên bố hợp đồng thuê nhà vô hiệuNgày 28 tháng 8 năm 2013 ông Phan Văn Q và bà Trần Thị Y kí Hợp đồng thuê khách sạn và tài sản không công chứng, chứng thực có nội dung chính ông Q cho bà Y thuê toàn bộ diện tích nhà đất số 39 đường L, phường U, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh. Để đảm bảo cho hợp đồng thuê nói trên, bà Y đặt cọc cho ông Q đồng thông qua hình thức bà Y cho ông Q vay theo hợp đồng vay tiền có công chứng. Việc đặt cọc và số tiền cọc dưới hình thức hợp đồng vay tiền đã được hai bên thừa đồng các bên đã giao kết bản chất là hợp đồng thuê nhà có thời hạn trên 6 tháng nhưng các bên đã không tuân thủ về hình thức, không công chứng hoặc chứng thực và không đăng ký theo quy định tại Điều 492 Bộ luật Dân sự năm 2005 và khoản 3 Điều 93 Luật nhà ở năm 2005. Do vậy Toà án cấp sơ thẩm xác định hợp đồng các bên giao kết bị vô hiệu ngay từ thời điểm giao kết do vi phạm về hình thức theo quy định tại các Điều 127; Điều 134 Bộ luật Dân sự 2005 là có cơ sở. Lỗi trong việc làm cho hợp đồng vô hiệu thuộc về cả hai bên đương sự do vậy không làm phát sinh trách nhiệm bồi thường. Toà án cấp sơ thẩm cũng đã giải thích về giao dịch dân sự vô hiệu, không đương sự nào có yêu cầu bồi thường thiệt hại, giải quyết hậu quả pháp lý phát sinh khi hợp đồng dân sự vô hiệu theo quy định tại Điều 137 Bộ luật Dân sự 2005.[ Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả tiền thuê nhà còn thiếuDo giao dịch dân sự bị vô hiệu nên các bên có nghĩa vụ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận tuy nhiên sau khi giao kết hợp đồng thuê, bị đơn bà Y đã nhận nhà và thực tế sử dụng do đó bà Y phải có nghĩa vụ trả tiền thuê cho nguyên đơn trong thời gian đã sử dụng cho đến khi giao trả nhà lại cho nguyên đơn. Bà Y xác nhận đã cùng ông O, ông P ký kết hợp tác kinh doanh tại số 39 đường L, Quận R. Việc kinh doanh các bên đồng ý giao cho ông P quản lý, tiền thuê nhà do bà Y đại diện trả cho ông Q tuy nhiên bà Y vi phạm nghĩa vụ trả tiền thuê nhà. Việc ông P và ông O sử dụng nhà của ông Q để kinh doanh là thông qua quyền sử dụng nhà thuê của bà Y đối với ông Q do đó bà Y vẫn phải có nghĩa vụ trả tiền thuê nhà theo nội dung các bên đã thỏa thuận hợp tác. Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả tiền thuê nhà theo thời gian thực tế bị đơn quản lý, sử dụng là có cơ bên đương sự đều xác nhận mặc dù ngày 05/01/2017 Tòa án nhân dân Quận R mới ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 03/2017/QĐ-BPKCTT có nội dung giao cho ông Phan Văn Q được quyền quản lý và giữ nguyên hiện trạng căn nhà 39 đường L, phường U, Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng thực tế ngày 10/8/2016 bà Y, ông O và ông P giao trả lại nhà cho ông Q quản lý sử dụng. Do đó Toà án cấp sơ thẩm xác định bà Y có trách nhiệm trả tiền thuê nhà còn thiếu cho ông Q từ ngày 10/9/2013 đến hết ngày 10/8/2016 35 tháng sau khi cấn trừ đi số tiền đặt cọc đồng và 01 tháng tiền thuê bà Y đã trả đồng và ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn chỉ yêu cầu trả tiền thuê nhà theo giá thuê đồng/tháng là có cơ sở. Số tiền bị đơn phải trả cho nguyên đơn cụ thể như sau đồng x 35 tháng – đồng + đồng = người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông O và ông P không có yêu cầu độc lập trong vụ án nên tranh chấp liên quan đến việc hợp tác đầu tư giữa bà Y, ông O và ông P sẽ được giải quyết bằng vụ kiện khác khi có yêu cầu.[ Vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý ngày 02/11/2015, khi xét xử Toà án căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án năm 2009 để tính án phí. Toà án cấp sơ thẩm tuyên căn cứ Nghị quyết 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, tuy nhiên số tiền án phí sơ thẩm mà đương sự phải chịu đã được tính đúng theo cách tính của pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án nên Hội đồng xét xử nhận thấy sự nhầm lẫn này không ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự và không làm thay đổi nội dung vụ án nên kiến nghị Toà án cấp sơ thẩm rút kinh nghiệm.[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không bổ sung thêm tài liệu, chứng cứ khác; Xét Toà án cấp sơ thẩm đã điều tra, xác minh đầy đủ, viện dẫn các quy định của pháp luật để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có sơ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy yêu cầu kháng cáo của bị đơn về việc huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm là không có cơ sở chấp nhận.[4] Về án phí.Án phí Dân sự sơ thẩm Căn cứ Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án bị đơn bà Trần Thị Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đồng và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là đồng. Ông Phan Văn Q không phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, do kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.[5] Về các chi phí tố tụng khác Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn chịu toàn bộ số tiền tạm ứng lệ phí thẩm định giá tài sản đã nộp là các lẽ trên, QUYẾT ĐỊNH- Căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;- Căn cứ vào các Điều 127; 134; 137; 492 Bộ luật Dân sự năm 2005;- Căn cứ khoản 3 Điều 93 Luật nhà ở năm 2005;- Căn cứ pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án;- Căn cứ Luật thi hành án dân sự 2008. Tuyên xử1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 228/2019/DSST ngày 09/7/2019 của Tòa án nhân dân Quận R, Thành phố Hồ Chí Minh như sauTuyên bố Hợp đồng thuê khách sạn và tài sản ngày 28 tháng 8 năm 2013 giữa ông Phan Văn Q và bà Trần Thị Y là vô bị đơn bà Trần Thị Y có trách nhiệm trả cho nguyên đơn ông Phan Văn Q số tiền thuê nhà còn thiếu là hai tỷ hai trăm hai mươi triệu đồng ngay khi án có hiệu lực pháp bên thi hành dưới sự giám sát của cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm trì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 69/2016/QĐ- BPKCTT ngày 05/9/2016 của Tòa án nhân dân Quận R về việc “Cấm thực hiện hành vi xuất cảnh ra nước ngoài”.3. Án phí dân sự sơ thẩm Bị đơn bà Trần Thị Y phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch hai trăm ngìn đồng và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là bảy mươi sáu triệu bốn trăm nghìn đồng. Ông Phan Văn Q không phải chịu án phí. Hoàn lại cho ông Phan Văn Q số tiền tạm ứng án phí đã nộp hai trăm nghìn đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AE/2014/0005460 ngày 02/11/2015 và ba mươi triệu đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AE/2014/0005461 ngày 02/11/2015 của Chi cục thi hành án dân sự Quận R, Thành phố Hồ Chí phí Dân sự phúc thẩm Bị đơn bà Trần Thị Y phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm ba trăm nghìn đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí ba trăm nghìn đồng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 000788 ngày 25/7/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận R, Thành phố Hồ Chí hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. Mẹo nhỏ Để tìm kiếm chính xác các bài viết của AZLAW, hãy search trên Google với cú pháp "Từ khóa" + "azlaw". Ví dụ thành lập công ty azlaw. Tìm kiếm ngayĐòi lại tiền đặt cọc như thế nào? Cách thức đòi lại tiền đặt cọc hợp pháp theo quy định pháp luật Lúc lên HN học đại học, cháu có thuê nhà trọ của một bác với hợp đồng 6 tháng và cháu phải đặt cọc một tháng tiền nhà là 2 triệu, cháu chỉ đưa tiền mà không viết giấy tờ gì cả. Bây giờ cháu chuyển đi thì bác ấy không chịu trả lại tiền với lý do là cháu mới ở được 4 tháng. Trước khi chuyển đi cháu có báo với bác ấy trước một tháng và bác ấy cũng đã đồng ý. Trong trường hợp này cháu phải làm như thế nào ạ? Cháu có lấy lại được tiền cọc không? Trả lời Theo quy định tại Điều 328 Bộ luật dân sự năm 2015 về đặt cọc quy định như sau Điều 328. Đặt cọc1. Đặt cọc được thực hiện là việc một bên đặt cọc giao cho bên kia bên nhận đặt cọc một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác gọi là tài sản đặt cọc trong cùng một thời hạn thì sẽ bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Xem thêm Đặt cọc là gì? Như vậy, trong trường hợp của bạn được hiểu việc bạn đặt cọc cho chủ nhà là để thực hiện hợp đồng thuê nhà, bảo đảm cho bạn thực hiện đúng những thỏa thuận trong hợp đồng ví dụ như không chấm dứt hợp đồng trước thời hạn, giữ gìn tài sản của người cho thuê…. Về nguyên tắc, tiền đặt cọc sẽ được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để được thực hiện về nghĩa vụ trả tiền khi hợp đồng được giao kết. Khoản 2 Điều 131 Luật nhà ở năm 2014 quy định trường hợp thuê nhà ở không thuộc sở hữu nhà nước thì việc chấm dứt hợp đồng thuê nhà ở được thực hiện khi có một trong các trường hợp sau– Hợp đồng thuê nhà ở hết hạn; trường hợp trong hợp đồng không xác định thời hạn thì hợp đồng chấm dứt sau 90 ngày, kể từ ngày bên cho thuê nhà ở thì phải có thông báo cho bên thuê nhà ở biết việc chấm dứt hợp đồng;– Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng…. Bên cạnh đó, Điều 132 Luật nhà ở năm 2014 cũng quy định Bên thuê nhà ở sẽ có quyền tự đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà ở khi bên cho thuê nhà ở có một trong các hành vi sau đây– Không sửa chữa nhà ở khi có hư hỏng nặng;– Tăng giá thuê nhà ở bất hợp lý hoặc tăng giá thuê nhà mà không thông báo cho bên thuê nhà biết trước theo thỏa thuận;– Khi quyền sử dụng nhà ở bị hạn chế do lợi ích của người thứ ba. Bên đơn phương chấm dứt thực hiện những hợp đồng thuê nhà thì phải thông báo cho bên kia biết trước ít nhất 30 ngày, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; nếu vi phạm quy định tại khoản này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật . Xem thêm Phạt cọc khi chấm dứt hợp đồng thuê nhà Theo thông tin bạn cung cấp, trước khi đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê nhà, bạn đã thông báo trước 1 tháng cho bác chủ nhà và đã được bác chủ nhà đồng ý. Như vậy, trường hợp của bạn được xem là trường hợp chấm dứt hợp đồng thuê nhà do hai bên thỏa thuận theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 131 Luật nhà ở năm 2014. Theo đó, nếu hai bên đã thỏa thuận về việc chấm dứt hợp đồng thì phía bên nhận đặt cọc bên cho thuê nhà sẽ phải trả lại tài sản đặt cọc cho bên đặt cọc là bạn. Để đòi lại tài sản là tiền đặt cọc, trước tiên bạn cần thương lượng với chủ nhà về nghĩa vụ bên cho thuê nhà phải trả lại tiền đặt cọc. Trong trường hợp bên cho thuê không đồng ý, bạn có thể gửi đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp đến Tòa án cấp huyện nơi có bất động sản tức là nơi có nhà cho thuê để được giải quyết. Tuy nhiên, theo quy định đặt cọc phải được lập thành văn bản để có thể chứng nhận việc đặt cọc đó, trong khi việc đặt cọc của bạn lại không có bất kì việc thỏa thuận, văn bản nào. Do đó, nếu bạn có người làm chứng hay bất cứ đoạn ghi âm hay chứng cứ gì để chứng minh cho việc đặt cọc để có thể yêu cầu đòi lại tiền cọc. Nếu không thì rủi ro không đòi lại được tiền đặt cọc khi thuê nhà của bạn khá lớn. Trong các giao dịch mua bán nhà ở nhằm đảm bảo được quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như giao kết được thực hiện. Các bên đã thỏa thuận và lập hợp đồng đặt cọc. Thế nhưng, hiện nay việc tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà xảy ra vẫn rất phổ biến. Cùng Đo Vẽ Nhanh tìm hiểu sâu hơn về vấn đề này qua bài viết dưới đây nhé. Đặt cọc là gì?Những dạng tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà phổ biếnThứ nhất Tranh chấp về mức phạt cọcThứ hai Tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên tranh chấp Thứ ba Tranh chấp về cam kết của các bênPhương thức giải quyết Thương lượngHòa giảiKhởi kiện tại Tòa Đặt cọc là gì? Theo quy định tại điều 328 của Bộ luật dân sự 2015, đặt cọc là việc 1 bên sau đây gọi là bên đặt cọc giao cho bên kia gọi là bên nhận đặt cọc 1 khoản tiền, đá quý, kim khí quý hoặc vật có giá trị khác tài sản đặt cọc trong một khoảng thời gian nhằm đảm bảo thực hiện hợp đồng. Bản chất của việc đặt cọc chính là một quy định nhằm đảm bảo thực hiện nghĩa vụ. Vì vậy khi mua nhà ở, đất hay thuê nhà,… hợp đồng đặt cọc được lập ra, việc đặt cọc bao nhiêu thông thường là do các bên thỏa thuận. Đặt cọc là việc bên đặt cọc giao cho bên nhận đặt cọc một khoản tiền, đá quý, kim khí quý hoặc vật có giá trị Trường hợp hợp đồng được giao kết và thực hiện, tài sản đặt cọc sẽ được hoàn trả cho bên đặt cọc hoặc trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền. Tuy nhiên, trường hợp 1 trong hai bên không thực hiện đúng, hoặc không thực hiện, dẫn tới tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà, đất,… Nếu như các bên không thỏa thuận được thì bắt buộc phải có sự can thiệp của pháp luật. Hiện nay, theo Bộ luật dân sự 2015, hợp đồng đặt cọc mua bán nhà không bắt buộc phải lập thành văn bản. Cũng như không bắt buộc phải công chứng chứng thực theo quy định của Luật nhà ở năm 2014, Luật Đất đai 2013. Tuy nhiên, để tránh các tranh chấp hoặc rủi ro xảy ra thì các bên nên lập thành văn bản và công chứng chứng thực. Hợp đồng đặt cọc mua bán nhà không bắt buộc phải công chứng, chứng thực Tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà thường được thể hiện dưới những dạng như sau Thứ nhất Tranh chấp về mức phạt cọc Căn cứ vào khoản 2 điều 328 của Bộ luật dân sự 2015 nếu như các bên không có thỏa thuận khác về mức phạt cọc, thì được thực hiện như sau Nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng, tài sản đặt cọc thường là tiền đặt cọc sẽ thuộc về bên nhận đặt cọc. Trường hợp bên nhận đặt cọc từ chối thực hiện hợp đồng thì phải có nghĩa vụ trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc phạt cọc. Mức phạt cọc có thể do hai bên thỏa thuận Nếu như các bên có thỏa thuận khác về mức phạt cọc như phạt gấp đôi, gấp ba lần tiền cọc thì thực hiện theo thỏa thuận đã ghi trên hợp đồng. Thứ hai Tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của các bên tranh chấp Đây chính là dạng tranh chấp nội dung điều khoản quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng. Thứ ba Tranh chấp về cam kết của các bên Khi đặt cọc, người sử dụng đất hay chủ sở hữu nhà ở sẽ cam kết tính pháp lý của quyền sử dụng đất, nhà ở. Nhà đất hiện không có tranh chấp, không bị kê biên để đảm bảo thi hành án, không bị thế chấp và còn trong thời hạn sử dụng đất. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp bên nhận đặt cọc lừa dối, không nói đúng sự thật, dẫn tới xảy ra các tranh chấp. Hợp đồng đặt cọc vô hiệu khi giả tạo Phương thức giải quyết Khi xảy ra tranh chấp chúng ta thường áp dụng ba cách giải quyết như sau Thương lượng Đây là biện pháp được nhà nước khuyến khích các bên thực hiện khi có tranh chấp xảy ra. Theo đó, các bên tự mình bàn bạc và tháo gỡ những bất đồng, mâu thuẫn. Thương lượng là cách giải quyết tranh chấp đơn giản, không mất nhiều thời gian, tiền bạc mà vẫn giữ được tình cảm đôi bên. Phương thức thương lượng được ưu tiên hàng đầu Hòa giải Là phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng đặt cọc có sự tham gia của bên thứ ba làm trung gian hòa giải nhằm hỗ trợ, thuyết phục và giải thích cho các bên. Bên thứ ba có thể là người am hiểu về luật pháp, có uy tin cao hoặc thông qua hòa giải viên cơ sở. Khởi kiện tại Tòa Đây là phương pháp giải quyết tranh chấp dựa trên thủ tục tố tụng dân sự thông qua tòa án. Kết quả giải quyết sẽ được đảm bảo thi hành án bởi cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, khi lựa chọn cách này, bạn sẽ phải nộp tiền tạm ứng phí, án phí, tốn nhiều thời gian và công sức. Quá trình khởi kiện phức tạp và tốn nhiều thời gian, công sức Có thể bạn cần biết Mẫu biên bản hòa giải tranh chấp đất đai chuẩn nhất 2022 Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quy định cụ thể Quy định pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai giữa anh em ruột Trên đây là toàn bộ thông tin liên quan tới tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán nhà mà bạn có thể tham khảo. Mong rằng, bài viết đã giúp bạn nắm rõ được các quy định của pháp luật về đặt cọc và một số cách giải quyết khi phát sinh những tranh chấp. Phan Nguyên Việt sinh năm 1985 tại Phú Yên. Tốt nghiệp đại học bách khoa chuyên ngành trắc địa bản đồ thuộc khoa xây dựng niên khóa 2003- 2008. Tôi khởi nghiệp thương hiệu thuộc sở hữu công ty TNHH Hợp Nhất Bách Việt chuyên cung cấp dịch vụ đo đạc địa chính và khảo sát địa hình.

tranh chấp tiền đặt cọc thuê nhà